Nguyễn An Ninh (1900 - 1943)

17 Tháng 3 2016
Người cập nhật :  

Nguyễn An Ninh (1900 - 1943) là nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu tôn giáo và là nhà cách mạng ở đầu thế kỷ 20 trong lịch sử Việt Nam. Tuy trẻ tuổi nhưng Nguyễn An Ninh sớm trở thành một trong những biểu tượng hàng đầu của giới trẻ dấn thân vào mục tiêu dân chủ và cứu nước.

Cuộc đời hoạt động: 

- Ông sinh ngày 15/9/1900. Thân phụ là Nguyễn An Khương, nhà nho yêu nước tham gia các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân. Là người sáng lập Khách sạn Chiêu Nam Lầu cuối thế kỷ 19 ở số 49 đường Kinh Lấp Sài Gòn, đây là cơ sở kinh tài của phong trào Đông Du ở phía Nam. Là nhà giáo, dịch giả nhiều truyện Tài và từ điển Khang Hy. Là chủ sự tờ Lục Tỉnh Tân Văn của Trần Khánh Chiếu. Bị bắt vì liên can trong phong trào Minh Tân của Trần Khánh Chiếu. Tên ông được đặt cho một con đường ở quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.

- Thân mẫu ông là Trương Thị Ngự, là người điều hành khách sạn Chiêu Nam Lầu, giúp đỡ phương tiện và tiền bạc cho thanh niên xuất dương trong phong trào Đông Du. Được truy tặng Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.

- 1900 - 1910: Sống với ông ngoại tại quê ở làng Long Thượng. Học chữ Nho, học hết Tứ Thư Ngũ Kinh.

- 1910 - 1916: Lên Sài Gòn sống với cha mẹ tại Chiêu Nam Lầu. Học tiểu học tại trường Dòng Taberd. Học trung học tại trường Chasseloup Laubat, rất giỏi Pháp văn, tốt nghiệp hạng ưu trung học cơ sở (bằng Brevet élémentaire). Được tuyển thẳng vào trường Cao Đẳng Hà Nội, trong thời gian chờ nhập học được nhận làm phóng viên tập sự viết “tin vỉa hè” ở báo Courrier Saigonnais.

- 1916 - 1918: Học trường Cao Đẳng Luật Hà Nội. Đang học năm thứ hai, nhân kỳ nghỉ hè về thăm cha đã trốn sang Pháp học, đi không hộ chiếu, nhà trường không hay biết.

- 1918 - 1920: Học Luật ở Đại Học Sorbonne Paris. Sống tự túc, ở trong khu công nhân Việt Nam, được thương mến vì học giỏi, sống chan hoà. Học chuyên cần sau hai năm đoạt bằng cử nhân Luật. Kết thân với các bậc cha chú như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường ở số 6 Villa des Gobelins, sau đó kết thân với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền. Thường xuyên dự các cuộc diễn thuyết của các trí thức tiến bộ Pháp, kết bạn với một số nhà văn, nhà báo Pháp.

Đỗ Cử nhân xong thì thân phụ gọi về nước hỏi vợ.

- Tháng 7/1920: Đi Pháp lần hai. Tiếp tục học về chuẩn bị luận án tiến sĩ với đề tài “Tính dân chủ ở các làng xã Việt Nam”.

- Tháng 8/1920 - tháng 10/1922:

  • Thường được cụ Phan Châu Trinh nhờ làm phiên dịch khi cụ gặp nhà cầm quyền Pháp.
  • Thường gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc (NAQ), cung cấp cho NAQ tư liệu về tội ác thực dân Pháp ở Đông Dương.
  • Sau đại hội Tours thành lập ĐCS Pháp, từ nghiên cứu Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền chuyển sang nghiên cứu Tuyên ngôn của ĐCS, nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin.
  • Mở rộng tiếp xúc với các trí thức tiến bộ và các nhà lãnh đạo ĐCS Pháp. Gia nhập Hội người Việt Nam yêu nước, Hội liên minh nhân quyền, Hội liên hiệp thuộc địa.
  • Viết bài cho các báo La Tribune Annamite, Le Libertaire, v.v…Cùng Nguyễn Thế Truyền biên tập hai số đầu tiên của báo Le Paria.
  • Đến các nhà in học xếp chữ và học in. Lập đường dây bí mật với thuỷ thủ Pháp để đưa sách báo về nước. Làm đại lý đầu tiên của báo Le Paria, báo L’Humanité ở VN.
  • Vào rừng ở ven Paris tập diễn thuyết và đi diễn thuyết ở các câu lạc bộ sinh viên Việt Nam, các hội quán Việt Kiều ở Pháp.
  • Du lịch một số nước: Đức, Áo, Ý, Thuỵ Sĩ, Bỉ, Hà Lan để tìm hiểu đời sống người lao động và các phong trào cách mạng.
  • Biết Nguyễn An Ninh sắp về nước, Paul Vaillant Couturier, uỷ viên Trung ương ĐCS Pháp, khuyên ông gia nhập ĐCS Pháp để về hoạt động đỡ khó khăn hơn, nhưng ông từ chối.
  • Nguyễn An Ninh xin gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa báo tin chuẩn bị về nước và sẽ trở qua tiếp tục thi tiến sĩ. Bộ trường Albert Sarraut khuyên ông về nước hợp tác với chính phủ thì sẽ được bổ nhiệm làm quan to. Nguyễn An Ninh hỏi lại: “Vậy các ông có thể giao cho tôi chức Toàn quyền Đông Dương không?”

- Tháng 10 /1922 về nước. Dù đã viết xong luận án tiến sĩ, nhưng Nguyễn An Ninh không thi để sau này có lý do trở sang Pháp.

- 25/1/1923 Lần đầu tiên người trí thức 23 tuổi từ Pháp về ra mắt công chúng Sài Gòn bằng bài diễn thuyết tiếng Pháp tại hội quán Hội Khuyến học Nam Kỳ với chủ đề: “Chung đúc nền học thức cho dân An Nam”.

- Tháng 12/1923 Đi Pháp lần thứ ba.

  • Mời Phan Văn Trường về nước cộng tác làm báo.
  • Tranh thủ viết bài cho báo Le Paria vạch tội ác thực dân Pháp ở Đông Dương.
  • Gặp lại Nguyễn Ái Quốc. Trao đổi về đường hướng cách mạng Việt Nam trước khi Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang Nga.

- Tháng 8/1923 rời Pháp về nước.

- Tối 15/10/1923 Diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Hội Khuyến học Nam Kỳ với chủ đề : “Lý tưởng của thanh niên Việt Nam” (Thời đó dịch là “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam”). Bài diễn thuyết hết sức nổi tiếng, gây tiếng vang sâu rộng trong dư luận xã hội Nam Kỳ.

  • Trong bài này, diễn giả bộc bạch: “Tôi có lòng ước mơ bằng Trời sẽ giúp cho tôi đủ sức và dư thì giờ để mà viết sách giúp cho đồng bào hiểu rõ tri thức Đông…Tây…”
  • Nhà nhiếp ảnh Khánh Ký sau buổi diễn thuyết đã chụp ảnh chân dung Nguyễn An Ninh (nhìn nghiêng, chống tay lên má), ảnh được in nhiều lần hàng vạn bức, bán khắp Sài Gòn, lục tỉnh. Nguyễn An Ninh trở thành thần tượng của thanh niên và dân chúng Nam Kỳ thuở đó.
  • Sau cuộc diễn thuyết nói trên, Thống đốc Nam Kỳ Cognacq mời Nguyễn An Ninh lên dinh Thống đốc đe doạ và tuyên bố “Không cần có trí thức ở xứ này. Nếu anh muốn làm tri thức thì hãy cút sang Moscou!”
Nguyễn An Ninh chụp năm 1923
Nguyễn An Ninh chụp năm 1923

- 10/12/1923 Báo “La Cloche Fêlée” (Chuông Rè) ra số đầu tiên. Nguyễn An Ninh là sáng lập viên, giám đốc (chủ nhiệm) kiêm chủ bút, tự viết bài, đưa in, tự đi bán báo (Riêng chức quản lý, theo luật, phải nhờ một người quốc tịch Pháp đảm nhiệm). Trụ sở báo ở số nhà 29 đường Pierre Flandin, nay là Bà Huyện Thanh Quan.

- 14/7/1924 Báo La Cloche Fêlée ra được 19 số thì phải tự đình bản vì bị chính quyền thực dân Pháp bóp chết bằng nhiều thủ đoạn tàn bạo, chưa báo nào thời đó khổ ải như vậy.

- 1924 Viết tác phẩm Pháp ngữ nổi tiếng “Nước Pháp ở Đông Dương”.

- Cuối 1924, Nguyễn An Ninh kết hôn với cô Trương Thị Sáu, một chủ tiệm may là người bạn đồng hành suốt cuộc đời ông.

- Tháng 1/1925 đi Pháp lần thứ tư.

  • Đón cụ Phan Châu Trinh về nước theo thư yêu cầu của cụ gởi cụ Nguyễn An Khương. Cùng cụ Phan đi chào từ biệt bạn bè cụ ở Paris và diễn thuyết tố cáo chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương.
  • Sách “Nước Pháp ở Đông Dương” xuất bản tháng 4/1925 tại Paris. In 2.000 cuốn, đem về nước 150 cuốn, còn bao nhiêu phát hành hết tại Pháp. Tác phẩm được Tạp chí “Europe” ở Paris đăng lại toàn văn. Tại Đông Dương, tác phẩm bị cấm lưu hành.

- Ngày 25/5/1925 Diễn thuyết tại hội quán “Sociétés Savantes” ở Paris , Nguyễn An Ninh tuyên bố: “Tôi không phải là cộng sản, không xuất thân từ giai cấp vô sản, nhưng tôi tán thành những nguyên lý cộng sản…Cách mạng sẽ nổ ra ở Đông Dương trong vài năm tới nếu không thay đổi thể chế hiện tại”.

- Tháng 6/1925 đưa cụ Phan Châu Trinh về tới Sài Gòn, được đồng bào đứng chật bến cảng đón tiếp nồng nhiệt.

  • Đón cụ Phan về chăm sóc, chữa bệnh ở Hóc Môn. Sau đó đưa cụ đi Mỹ Tho, Trà Vinh để vận động tài trợ báo La Cloche Fêlée tục bản và mở trường học, mở hội quán cho người yêu nước.
  • Đưa cụ Phan xuống Sài Gòn ở nhà ông Huỳnh Đình Điển để gặp gỡ dân chúng. Sau đó lại đón cụ về Hóc Môn chăm sóc.
  • Cùng Phan Văn Hùm xuống Mỹ Tho ra mắt Mai Văn Ngọc, một nhà trí thức ẩn dật. Ba người nguyện sát cánh để cho ra đời tổ chức “Thanh Niên Cao Vọng” (TNCV).

- 26/11/1925 cho tục bản báo La Cloche Fêlée (số 20) với sự tài trợ của nhà điền chủ yêu nước Nguyễn Huỳnh Điểu ở Trà Vinh. Mời luật sư Phan Văn Trường làm Giám đốc chính trị, Dejean de la Bâtie làm quản lý tờ báo. Lập nhà in riêng và tổ chức mạng lưới phát hành báo La Cloche Fêlée đến tận tay độc giả, tăng số lượng phát hành từ 2.000 lên 5.000 tờ.

  • Vừa làm báo, vừa đi sâu vận động quần chúng, tiếp tục tổ chức lớp trẻ và những người yêu nước vào TNCV để làm lực lượng nòng cốt khi cách mạng cần.
  • Mở nhiều cuộc nói chuyện và diễn thuyết ở nhiều tỉnh miền Đông Nam Kỳ.

- 21/3/1926 Diễn thuyết tại cuộc mit tinh ở đường Lanzarotte đòi tự do dân chủ.

- 24/3/1926 Lần đầu tiên bị chính quyền thực dân bắt giam. Tối hôm đó cụ Phan Châu Trinh từ trần.

  • Từ trong tù, Nguyễn An Ninh đã tìm cách ngăn chặn Trần Huy Liệu và nhóm “Jeune Annam” manh động gây phong trào đòi thả Nguyễn An Ninh.
  • Bàn với Trần Huy Liệu tổ chức chu đáo đám tang cụ Phan Châu Trinh.

- 29/3/1926 Báo La Cloche Fêlée bắt đầu đăng “Tuyên ngôn Cộng sản” của Mác-Ăngghen theo đúng kế hoạch do Nguyễn An Ninh chuẩn bị, sắp xếp từ mấy tháng trước.

- 23/4/1926 bị Toà án sơ thẩm kết án về tội xúi dân làm loạn với mức án 2 năm tù. Chống án lên Toà phúc thẩm, rút xuống còn 18 tháng tù.

- 6/5/1926 Báo La Cloche Fêlée đổi tên mới là “L’Annam” (nước Nam)

- 9/12/1926 Chức danh Giám đốc báo “L’Annam” được chuyển từ Phan Văn Trường sang Nguyễn Huỳnh Điểu là người tài trợ báo La Cloche Fêlée tục bản.

- 7/1/1927 Nguyễn An Ninh được trả tự do sau gần 10 tháng ở tù lần thứ nhất tại Khám Lớn Sài Gòn.

- 14/3/1927 nhằm 11/2 âm lịch là ngày cụ Phan Châu Trinh mất, tổ chức cúng giáp năm cụ Phan, Nguyễn An Ninh tuyên bố trước hàng trăm ngàn người, mà nòng cốt là lực lượng TNCV tham dự lễ cúng: “Với tư cách là người đã từng sát cánh và hiểu sâu sắc tư tưởng của cụ Phan, tôi khẳng định “Pháp Việt đề huề” không phải là đường lối chính trị tư tưởng của Phan Châu Trinh.”

- 25/7/1927 báo “L’Annam” tạm đình bản vì Nguyễn An Ninh chuẩn bị đi Pháp sau khi trụ sở báo bị mật thám lục soát, tịch thu sổ sách, bắt giam giám đốc Nguyễn Huỳnh Điểu, đại diện biên tập Nguyễn Khánh Toàn và quản lý Nguyễn Văn Long. Lý do: báo phản đối lệnh cấm truy điệu cụ Lương Văn Can.

- 8/8/1927 Đi Pháp lần thứ năm.

  • Nhờ bạn bè Pháp và lãnh đạo ĐCS Pháp hỗ trợ phong trào yêu nước ở Đông Dương.
  • Hỏi thăm tin tức Nguyễn Tất Thành.
  • Đón Nguyễn Thế Truyền về nước.
  • Dự trại hè sinh viên Việt Nam ở Pháp tại thành phố Aix-en-Provence.

- Cuối 1927 lãnh đạo ĐCS Pháp tổ chức cuộc gặp giữa Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền với Nguyễn Tất Thành, nhân dịp Nguyễn Tất Thành ghé qua Paris trên đường đi dự Hội nghị quốc tế các tổ chức cách mạng tại Bỉ. Đây là lần gặp nhau cuối cùng của ba người bạn.

- 6/1/1928 Về đến cảng Sài Gòn cùng gia đình Nguyễn Thế Truyền. Đưa ông Truyền cùng vợ và hai con gái về sống chung tại nhà ở Hóc Môn.

- 12/1/1928 Cho tục bản báo “L’Annam” với ban biên tập mới là Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Khánh Toàn và Nguyễn An Ninh.

- Tháng 12/1928 bất ngờ chia tay với Nguyễn Thế Truyền sau khi vợ ông Truyền bị rắn cắn suýt chết, ông thu xếp đưa gia đình về quê ở miền Bắc sinh sống.

- 2/2/1928 Cho báo “L’Annam” tự đình bản sau số cuối cùng, số 182, vì Ban biên tập thiếu Nguyễn Thế Truyền trong lúc Nguyễn An Ninh tập trung lo hoàn chỉnh tổ chức TNCV.

- Tháng 2- tháng 8/1928 cùng Phan Văn Hùm đi các tỉnh miền Tây tiếp tục thu hút quần chúng tiến bộ vào tổ chức TNCV, làm cho TNCV có mặt khắp Nam Kỳ. Để che mắt mật thám, hai ông Ninh, Hùm cạo trọc đầu, đem theo trong hành trang nhiều sách kinh Phật. Vì thế mà có dư luận Nguyễn An Ninh đi tu.

- Tháng 6/1928 Viết xong và cho in vở tuồng “Hai Bà Trưng”, một hình thức nguỵ trang làm tài liệu học tập cho hội viên TNCV, đánh số từ 1 đến 4.000 ở trang 2, có chữ ký của tác giả tặng cốt cán TNCV.

- 28/09/1928 tại ga Bến Lức trên đường về Sài Gòn hai người bị bọn tuần tra xét giấy thuế thân. Phan Văn Hùm bị bắt vì đánh tên cai Trần Văn Nên. Nguyễn An Ninh không bị bắt, nhưng hai ngày sau đó có trát đòi.

- 2/10/1928 Sau mấy ngày bị trát đòi, biết không thoát được, Nguyễn An Ninh sắp xếp công việc xong, đã đến phòng bồi thẩm trình diện.

- 8/5/1929 Bị Toà tiểu hình Sài Gòn kết án 3 năm tù giam, 5 năm mất quyền công dân và 1.000 quan tiền phạt về tội chủ mưu lập “hội kín”. Chống án lên Toà đại hình, xử phúc thẩm ngày 17/7/1929 vẫn y án sơ thẩm.

- Thời gian Nguyễn An Ninh bị giam, Thống đốc Nam Kỳ cho mời bà Nguyễn An Ninh lên gặp, dụ dỗ: nếu bà khuyên chồng từ bỏ hoạt động chống chính phủ thì sẽ được chúng chu cấp nhà lầu, ruộng đất. Bà Ninh từ chối.

- 1928-1931 Ở tù lần thứ hai tại Khám Lớn Sài Gòn.

  • Trong tù đã ở chung với Phạm Văn Đồng gần một năm (tháng 7/2029- tháng 6/2030) tại khám số 7 (gọi là khám Ninh). Hai người thường xuyên tranh luận với nhau về học thuyết Mác-Lênin, về đường lối cách mạng Việt Nam, ngày càng hiểu nhau, tin nhau. Nhờ có Nguyễn An Ninh, Phạm Văn Đồng và Châu Văn Liêm được NAQ từ nước ngoài cử về nước để chuẩn bị thành lập ĐCS. Vì vậy Nguyễn An Ninh đã dặn bà Ninh giới thiệu cốt cán TNCV cho Châu Văn Liêm tuyển chọn kết nạp vào An Nam Cộng Sản Đảng cuối 1929. Châu Văn Liêm mời cả hai ông bà Nguyễn An Ninh vào Đảng, nhưng ông bà đều từ chối.
  • Nhờ được sự cảm phục của cai lính và nhân viên Khám Lớn nên Nguyễn An Ninh đã tổ chức được đường dây bí mật liên lạc giữa tù chính trị trong khám với bên ngoài.

- 3/10/1931 Ra tù sau khi bị giam đúng hạn 3 năm. Cuối 1931 Tiếp đoàn nhà báo Pháp do bà André Viollis dẫn đầu đến Sài Gòn.

- 1931-1932 Qua đường dây bí mật liên lạc giữa Khám Lớn Sài Gòn với bên ngoài, giúp Xứ uỷ Nam Kỳ và Trung Ương ĐCSĐD lúc đó phần lớn bị giam ở Khám Lớn nối liên lạc với các đồng chí còn lẩn trốn bên ngoài.

- 6/1932 Việt xong, đưa xuất bản sách “Tôn giáo”. Ở trang cuối sách này, Nguyễn An Ninh ghi: “Quyển Tôn giáo đây đóng số 1, các quyển ra nối theo sau đánh số 2,3,4, v.v…, tôi sẽ hiệp lại đặt tên là bộ sách “Sao Mai”.

- 1932 Nhận viết báo “Trung Lập” theo lời mời của Trần Thiện Quý và Nguyễn Văn Tạo.

- Từ giữa 1932 trở đi: Cùng Nguyễn Văn Trân cải dạng làm người đi bán dầu cù là suốt gần 3 năm 1932-1935 để giao lực lượng TNCV cho ĐCS tuyển chọn kết nạp vào Đảng.

- 24/4/1933 Sáng lập và điều hành báo “La Lutte” bằng tiền nhà để tuyên truyền vận động bỏ phiếu cho liên danh Nguyễn Văn Tạo (gọi là “Sổ lao động”) ứng cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn. Ra được 4 số báo, mỗi số in 10.000 tờ đến 2/6/1933 thì tự đình bản vì hết tiền và xong bầu cử.

- 8/1933 Tiếp đón bạn thân là Paul Vaillant Couturier uỷ viên Trung ương ĐCS Pháp (người mời Nguyễn An Ninh vào ĐCS Pháp năm 1920, nhưng Nguyễn An Ninh từ chối) dẫn đầu một phái đoàn đi dự Hội nghị Quốc tế bảo vệ hoà bình ở Thượng Hải ghé lại Sài Gòn. Nguyễn An Ninh cung cấp cho đoàn tình hình thực dân Pháp khủng bố phong trào Cộng sản ở Việt Nam, hướng dẫn đoàn đi tiếp xúc với các giới. Nhờ đó ĐCS Pháp đã báo cáo đề nghị Quốc tế Cộng sản giúp đỡ ĐCS Đông Dương.

- Đầu năm 1934 tiếp đón hướng dẫn phái đoàn Quốc Tế Cứu tế Đỏ do Gabriel Péri, nghị sĩ Đảng Cộng sản Pháp dẫn đầu đi khắp các xí nghiệp Sài Gòn Chợ Lớn suốt một tháng điều tra tình hình công nhân, tình hình tù chính trị trong Khám Lớn và ở các tỉnh. Đoàn đã thông qua Nguyễn An Ninh bí mật chuyển tiền và tài liệu của Quốc tế Cộng Sản gởi ĐCS Đông Dương.

- 4/10/1934 Báo “La Lutte” bộ mới tục bản từ số 5, tiếp nối 4 số “La Lutte” trước, sau khi Nguyễn An Ninh làm trung gian giữa nhóm Cộng Sản hoạt động công khai và nhóm Trốt kít cùng muốn báo này tục bản bằng tiền và nhà in của nhóm Trốt kít. Hai nhóm cam kết không đả kích nhau và tuân thủ một số điều kiện khác vì lợi ích chung của dân tộc.

- 4/1935 giúp vận động bỏ phiếu cho liên danh của nhóm “La Lutte” ứng cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn và Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ.

- 1935-1936 Thường xuyên hoà giải bất đồng giữa hai nhóm Cộng sản và Trốt kít trong nội bộ báo “La Lutte” để trên mặt báo không vi phạm những điều đã cam kết.

- 5/1936: Đề xuất tại một cuộc họp của nhóm “La Lutte” sáng kiến triệu tập Đại Hội Đông Dương có tất cả các thành phần yêu nước tham gia nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp xã hội tập trung mũi nhọn đấu tranh chống âm mưu gây chiến cảu bọn đế quốc câu kết với phát xít.

- 7/1936 Viết lời kêu gọi “Tiến tới một Đại Hội Đông Dương” đăng báo “La Lutte” ngày 29/7/1936. Trước đó Nguyễn An Ninh bí mật đề nghị được Xứ uỷ Nam Kỳ nhất trí: Khi báo đăng lời kêu gọi thì cấp ủy các địa phương đồng loạt lập các Uỷ ban Hành Động có nhiệm vụ thu thập nguyện vọng quần chúng và phát động phong trào quần chúng đấu tranh công khai do Đảng lãnh đạo. Qua đó tranh thủ xây dựng cơ sở Đảng khắp nơi.

  • Nguyễn An Ninh đảm nhiệm vai trò hạt nhân trong Uỷ ban Hành Động Trung ương, lôi kéo các phe nhóm, làm nòng cốt trong phong trào công khai, hoạt động chủ yếu ở Sài Gòn Chợ Lớn và một số xí nghiệp lớn.
  • Kết quả chưa đầy hai tháng đã có 600 Uỷ ban Hành động cơ sở ra đời; cuộc vận động Đại Hội Đông Dương phát triển thành một cao trào cách mạng do Đảng lãnh đạo trong những năm 1936-1939.

- 21/9/1936 Thống đốc Nam Kỳ ra tối hậu thư buộc Nguyễn An Ninh nộp “tập thỉnh cầu” do Uỷ ban Hành Động Trung Ương soạn thảo và chấm dứt hoạt động của các Uỷ ban Hành động.

- 24/09/1936 Báo “La Lutte” đăng bài của Nguyễn An Ninh vạch “sự ngoan cố của chính phủ Nam Kỳ trong việc ngăn cản Đại Hội Đông Dương bằng mọi giá”. Nguyễn An Ninh tuyên bố: “Các dân tộc Đông Dương chỉ còn biết dựa vào chính sức mình để cải thiện số phận của mình”.
Đồng thời dưới măng sét, báo loan tin bằng hàng chữ to: “Báo động! Lệnh đàn áp đã ban hành” để các địa phương và cơ sở cảnh giác đối phó.

- 28/09/1936 bị bắt giám ở Khám Lớn Sài Gòn, Nguyễn An Ninh vào tù lần thứ ba.

- 26/10/1936 bắt đầu tuyệt thực cùng với Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu để phản đối việc bị giam gần một tháng không xét xử.

- 5/11/1936 được thả cùng với Tạo, Thâu sau 11 ngày nhịn ăn và ngày cuối nhịn uống trong lúc phong trào ủng hộ Ninh, Tạo, Thâu vang dội trong cả nước và bên Pháp.

- Đầu 1937 viết xong quyển “Phê bình Phật Giáo” và bắt đầu viết quyển “Phê Bình Khổng Giáo”.

- Tháng 3/1937 bắt đầu viết nhiều bài bút chiến với Tạ Thu Thâu trên báo “La Lutte” sau khi nhóm Trốt kít vi phạm cam kết, viết bài đả kích Liên Xô và Mặt trận Bình dân Pháp và sau khi Tạ Thu Thâu bác bỏ lời Nguyễn An Ninh kêu gọi đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Nhân dân Đông Dương.

- Đầu tháng 5/1937 Nguyễn An Ninh cùng Nguyễn Văn Nguyễn đi các tỉnh miền Tây vận động tài chính ủng hộ ĐCS ra báo “L’Avant-Garde”.

- 7/5/1937 hai ông có mặt ở Càng Long, tỉnh Trà Vinh đúng lúc Đảng bộ Cộng sản ở đó tổ chức quần chúng biểu tình kỷ niệm ngày Quốc tế Lao Động.Vì vậy bọn cầm quyền vu cáo, kết tội hai ông xúi giục dân chúng biểu tình.

- 14-15/5/1937 Nguyễn An Ninh cáo bệnh, trốn trong vùng Hóc Môn khi có hai trát liên tiếp buộc ra hầu toà.

- 21/5/1937 bị Thống đốc Nam Kỳ phát lệnh truy nã toàn Nam Kỳ và thông báo cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ biết, Nguyễn An Ninh vẫn trốn vì viết bài đăng báo “L’Avant-Garde” trả lời ý kiến Hà Huy Tập.

- Đầu tháng 9/1937 từ Hóc Môn lánh xuống Bến Lức, tỉnh Chợ Lớn.

- 5/9/1937 bị bắt tại nhà ông Hội đồng Võ Công Tồn ở Bến Lức, Nguyễn An Ninh vào tù lần thứ tư, toà kêu án 5 năm tù, 10 năm biệt xứ, chống án rút xuống còn 2 năm tù, 5 năm biệt xứ về tội xúi giục dân chúng biểu tình.

- Tháng 5/1938 Quyển “Phê bình Phật Giáo” được bà Nguyễn An Ninh nhờ Nhà xuất bản của Xứ uỷ Nam Kỳ là Đông Phương Thư xã in và phát hành.

- 18/2/1939 mãn hạn tù giam, tiếp theo bị biệt xứ ở Mỹ Tho. Đưa cả gia đình cùng về sống ở Mỹ Tho, cạnh trụ sở Đông Phương Thư xã.

- Tháng 4/1939 từ chối đề nghị của đại diện Xứ uỷ Nam Kỳ Nguyễn Thị Minh Khai xuống Mỹ Tho mời Nguyễn An Ninh đứng tên vào “Sổ Dân chúng” ứng cử vào Hội đồng QUản hạt Nam Kỳ. Nguyễn An Ninh từ chối vì trong “Sổ Dân chúng” có cả Nguyễn Phan Long. Đồng chí Minh Khai phải xuống gặp lần thứ hai, Nguyễn An Ninh dù không tán thành nhưng vẫn “chấp hành quyết định của Xứ uỷ”, ra ứng cử trong liên danh “Sổ Dân Chúng”.

- 4/10/1939 bị bắt khi đang bị quản thức (án biệt xứ) tại Mỹ Tho trong bối cảnh vừa bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp khủng bố hàng loạt, bắt giam hầu hết các nhà cách mạng không phân biệt xu hướng chính trị. Đây là lần thứ năm Nguyễn An Ninh bị bắt vào tù.

- 27/7/1940 bị Toà án Quân sự xử kín, kêu án 5 năm tù và 10 năm biệt xứ về tội gây rối trị an.

- 10/12/1940 Bị đày ra Côn Đảo. Trong nhà tù Côn Đảo, khi đang lâm bệnh nặng, Nguyễn An Ninh đã hai lần kiên quyết từ chối lời mời của bọn Nhật đi cùng Nguyễn Hoà Hiệp là sư trưởng “đệ tam sư đoàn” thân Nhật, theo lệnh của phát xít Nhật ra Côn Đảo mời Nguyễn An Ninh về hợp tác lập chính phủ thân Nhật ở Việt Nam.

- Tháng 7/1943 tại Sài Gòn bọn Nhật và Nguyễn Hoà Hiệp lại đến nhà bà Nguyễn An Ninh đề nghị bà ra Côn Đảo thăm ông Ninh, thuyết phục ông về hợp tác với Nhật lập chính phủ. Bà Nguyễn An Ninh đã từ chối dù nghe tin ông đang bị bệnh phù thủng nặng.

- Đầu tháng 8/1943 Nguyễn Hoà Hiệp cùng Phạm Hữu Đức, một tay sai khác của Nhật, lần thứ hai đến thuyết phục bà Nguyenx An Ninh ra Côn Đảo rước ông về đất liền chữa bệnh nếu ông đồng ý đứng ra lập chính phủ. Bà Nguyễn An Ninh vẫn kiên quyết từ chối.

- 14/8/1943, tức 14 tháng 7 năm Quý Mùi, Nguyễn An Ninh hy sinh tại Côn Đảo, hưởng thọ 43 tuổi. Cho đến lúc mất, ông đã 5 lần ở nhà tù của thực dân Pháp. 11 năm 6 tháng tù ở 20 năm biệt xứ, 10 năm mất quyền công dân. 

Tác phẩm

Ngoài những bài diễn thuyết, bài báo bằng tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, ông còn soạn các sách: Nước Pháp ở Đông Dương (La France en Indochine) (1925), Hai Bà Trưng (tuồng hát) (1928), Tôn giáo (1932) và Phê bình Phật giáo (1937). Dân ước (dịch những đoạn chính trong quyển Contrat social của Rousseau vào năm 1923).

Bài thơ cuối cùng

Sống và chết
Sống mà vô dụng, sống làm chi
Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn
Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ
Sống sao nên phài, cho nên sống
Sống để muôn đời, sử tạc ghi.
Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài
Chết đáng là người đủ mắt tai
Chết được dựng hình tên chẳng mục
Chết đưa vào sử chứ không phai
Chết đó, rõ ràng danh sống mãi
Chết đây, chỉ chết cái hình hài
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.[9]

Nhận xét

Trích một số nhận xét của các nhà văn, nhà nghiên cứu:

GS. Trần Văn Giàu:

Nguyễn An Ninh là nhà Tây học đầu tiên của Sài Gòn và Việt Nam đã đấm cho Khổng giáo mấy quả đấm kinh hồn.

Người anh Ninh, tóc chấm vai, mắt sáng như sao, tiếng trong như chuông. Ở đất Sài Gòn mà mặc bà ba, đi guốc, bán báo Chuông rè của mình viết. Hình ảnh đó tự nó đủ gây cảm tình sâu sắc với đồng bào... Một thuở, Nguyễn An Ninh là thần tượng của đồng bào lục tỉnh, của học sinh chúng tôi... Con người sôi nổi, đại chúng đó, hùng hồn ở diễn đàn, bén nhọn trên cột báo, không chút sợ Tây, tà, vào tù như về quê, con người ấy đồng thời là một người trầm tư, mặc tưởng...

Nguyễn An Ninh là một chính khách, học giả, một nhà chính trị hoạt động. Trước hết, anh là một con người của quần chúng, là con người của nhân dân... Trong mắt, trong lòng người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, chí sĩ Nguyễn An Ninh là một người cách mạng, xứng đáng được lưu danh bằng bia đá, tượng đồng". Từ một sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn An Ninh trở thành một chiến sĩ, một lãnh tụ có uy tín lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào yêu nước Việt Nam trong suốt gần 2 thập kỷ (từ1923 đến 1943). Ông còn là nhà tư tưởng, nhà văn hoá và nhà báo lớn. Những tác phẩm của ông về tư tưởng chính trị, về tôn giáo và về văn hoá có ảnh hưởng sâu rộng đối với diễn trình lịch sử văn hoá - tư tưởng Việt Nam cận đại. Ông là một trong những người tiêu biểu nhất của lớp trí thức "Tây học" đầu tiên, dũng cảm dấn thân, xả thân, đem hết tài năng, dũng khí và tính mạng cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.

Tiến sĩ sử học Pháp Daniel Héméry:

Nguyễn An Ninh là người có ảnh hưởng lớn đến trí thức miền Nam Việt Nam trong những năm 1920, 1940, người đã thức tỉnh cả một thế hệ.

Nhà văn Sơn Nam:

Nguyễn An ninh xuất hiện, đóng vai trò tích cực rồi trở thành người được ái mộ nhờ khả năng sáng tạo về mặt lý thuyết cũng như thực hành. Nếu thân phụ của ông ao ước một cuộc Duy Tân hướng về nước Nhựt thì lần này, khi du học ông hấp thụ được những tinh túy về lý thuyết của tây phương. Ông sẵn có một căn bản về triết học Đông phương vững chắc, am hiểu đạo Phật, đạo Lão, đạo khổng. Nhưng quan trọng nhứt là am hiểu tình hình miền Nam...

Về tác phong của ông, Phan Văn Hùm đã viết như sau: "Ông người thể chất yếu, nhờ thể thao, nhờ đi xe đạp, nhờ chịu cực mới khỏe được...Người ông như vậy, cho nên về sau này ở trong ngục hễ thời tiết thay đổi là ông bị cảm ngay. Thế mà ông ghét đám thanh niên ăn sung mặc sướng, đi ra nửa bước đã ngồi xe, ông muốn bày ra một cảnh sinh hoạt tự do, mà "cần lao" như dân đi làm rừng làm rẫy: quần áo vải bô, chiếc nóp, đãy cơm, bầu nước, rồi mênh mông đâu cũng là nhà."

Tác phong bình dân ấy có sức thu hút khá mạnh. Khi vào tù cửa vừa đóng lại, thiên hạ vây chung quanh ông, khám bên kia có mấy người chun song sắt qua chào...

Có người nhận xét rằng Nguyễn An Ninh mang tâm hồn nghệ sĩ, ít nghĩ tới việc tổ chức lực lượng cách mạng. Nhưng ta không nên đòi hỏi quá nhiều ở một kẻ sĩ, một nhà hiền triết nồng nhiệt yêu nước. Cách mạng không phải là độc quyền của kẻ sĩ nhưng là sự đóng góp của toàn dân từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhiều miền, nhiều giới.

Ông làm tròn sứ mạng của kẻ sĩ: sáng tạo, đi tiên phong, đốt lên ánh đuốc sáng rực trong buổi bình minh đầy giông tố...

Nhà văn Lê Minh Quốc:

Biết Nguyễn An Ninh có tài, Pháp đem chức tước dụ dỗ, nhưng trước sau ông vẫn một mực khước từ, chấp nhận một cuộc sống thanh đạm. Để việc hoạt động được thuận lợi, ông với mái tóc "bombé" theo kiểu "phi-lô-xốp à mode de Nguyen An Ninh", đi rao bán dầu cù là, bán báo Tiếng chuông rè trên khắp đường phố Sài Gòn. Với tài hùng biện, ông hô hào quần chúng lao khổ vùng dậy đòi tự do cơm áo. Ông thực sự là một nhà hành động, từng vào tù ra khám nhưng cũng là nhà tư tưởng, nhà triết học....

Trong Tự điển Văn học (bộ mới):

Văn Nguyễn An Ninh, giá trị ở chỗ "sôi động, tình cảm chân thực, đặc biệt là các bài diễn thuyết và các bài chính luận trên báo Tiếng chuông rè, hết sức lôi cuốn người đọc, người nghe. Ông là một nhà yêu nước mãnh liệt, một người trí thức có một đời sống rất trong sạch, rất gần gủi với quần chúng lao động nghèo. Ông chống Pháp đến cùng và khi chết cũng cười mà chết.

Vinh danh/Tưởng nhớ

Để tưởng nhớ đến những công lao mà Nguyễn An Ninh đã cống hiến cho dân tộc, ngày 18 tháng 11 năm 2000, Nhà tưởng niệm Nguyễn An Ninh đã được khởi công xây dựng và tổ chức khánh thành vào ngày 15 tháng 9 năm 2002. Nhà tưởng niệm nằm ở phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc phường Trung Mỹ Tây, quận 12 với diện tích khoảng 3000m². Công trình xây dựng có kết cấu bê tông cốt thép, cột, kèo, đòn dông bằng gỗ mái đỏ, đường nét thẳng là kiểu lợp mái nhà đặc trưng Nam bộ. Trang bị nhà thờ gồm bàn, ghế, tủ thờ, kệ sách...đều bằng gỗ. Đây cũng là nơi mà trước kia Nguyễn An Ninh đã từng sống và hoạt động cách mạng. Từ ngoài cổng chính vào, một bên là mộ phần ông bà Nguyễn An Khương, cha mẹ của Nguyễn An Ninh và một bên là bia tưởng niệm ông bà Nguyễn An Ninh.

Ngày 1 tháng 8 năm 1980, Nguyễn An Ninh được nhà nước Việt Nam truy nhận là Liệt sĩ.

Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Hạ Long...đều có những trường học và đường phố mang tên ông.

Top
SJ Time - шаблон joomla Оригами