Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872)

19 Tháng 3 2016
Người cập nhật :  

Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872), tên cũ là Bùi Quang Nghĩa, hiệu Nghi Chi, thủ khoa trong kỳ thi hương ở Gia Định năm 1835, là quan nhà Nguyễn và là nhà thơ Việt Nam.

Tượng bán thân của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa tại chùa Nam Nhã bên bờ sông Bình Thủy

Ông sinh tại làng Long Tuyền, phủ Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh (nay là TP Cần Thơ). Cha ông tên Bùi Hữu Vị, làm nghề thuyền chài. Vì nhà quá nghèo nên mặc dù Bùi Hữu Nghĩa thông minh, chăm chỉ, ông chỉ theo học chữ Hán được mấy năm. Sau nhờ một nhà giàu cùng xóm họ Ngô, vì mến tài, giúp cho ông lên Biên Hòa theo học với thầy Đỗ Hoành.

Năm 1835 ông đậu thủ khoa trong kỳ thi hương ở Gia Định, vì thế ông được gọi là Thủ khoa Nghĩa. Sau khi đỗ kỳ thi hương, Bùi Hữu Nghĩa ra Huế dự thi Hội nhưng trượt. Tuy vậy, ông vẫn được triều đình cho tập sự ở Bộ Lễ, rồi bổ làm tri phủ Phước Long (Biên Hòa).

Nhưng với bản tính liêm chính, Bùi Hữu Nghĩa không được quan trên ưa, nên ông bị giáng làm tri huyện Trà Vang (tức Trà Vinh, thuộc tỉnh Vĩnh Long), dưới quyền của tổng đốc Trương Văn Uyển và bố chánh Truyện.

Ở nơi mới, Bùi Hữu Nghĩa cũng không được quan trên ưa, vì có lần ông cho đánh đòn em vợ bố chính Truyện, bởi thói xấc láo. Nhưng Bùi Hữu Nghĩa bị họ ghép tội chết, lại là lần ông bênh vực cho người dân Khmer được tiếp tục khai thác nguồn lợi thủy sản ở kênh Láng Thé, nơi ông đang cai quản.

Nguyên Trà Vang là một địa bàn cộng cư của các tộc người Kinh, Hoa, Khmer, nhưng đông nhất là tộc người Khmer.

Nguyên trước kia, vào năm 1783, khi chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, phải về đây trú ẩn, không những chúa được người Khmer chia sẻ lương thực mà còn tình nguyện theo phò giúp. Do vậy, khi lên ngôi, vua Gia Long (tức Nguyễn Phúc Ánh) đã xuống chiếu miễn thuế vĩnh viễn cho tất cả người Khmer đến khai thác nguồn lợi thủy sản ở rạch Láng Thé, huyện Trà Vang.

Thấy nguồn lợi lớn, một số địa chủ người Hoa đem tiền lo lót tổng đốc Uyển và bố chánh Truyện để giành quyền khai thác cá tôm ở rạch Láng Thé.

Bị bức ép, tháng 10 năm Mậu Thân 1848, một số người Khmer do ông Nhêsrok, trưởng Sóc, cầm đầu kéo đến gặp tri huyện Bùi Hữu Nghĩa để khiếu kiện. Biết được hành động tham gian của quan trên và hành động ỷ quyền của nhóm người Hoa, ông phán xử:

"Việc tha thuế thủy lợi là ơn huệ của vua Thế Tổ ban cho dân Thổ, nay ai nhỏ hơn vua Thế Tổ mà dám đứng bán rạch ấy, thì có chém đầu nó cũng không sao!". 

Nghe vậy, những người dân Khmer kéo nhau đến nhà những người Hoa tranh cãi, dẫn đến xô xát, làm phía người Hoa chết 8 người.

Nhân cơ hội này, tổng đốc Uyển và bố chánh Truyện cho bắt những người Khmer gây án, đồng thời bắt luôn Bùi Hữu Nghĩa, tạm giam ở Vĩnh Long rồi giải về Gia Định, đệ sớ lên triều đình tố cáo ông đã kích động dân Khmer làm loạn và lạm phép giết người. Nhận được tin dữ, vợ ông là Nguyễn Thị Tồn, đã quá giang ghe bầu, vượt sóng gió ra Huế.

Bấy giờ, Phan Thanh Giản đang làm Thượng thư bộ Lại, Nguyễn Thị Tồn tìm đến tư dinh ông Phan trình bày hết mọi việc, rồi nghe theo lời khuyên, bà đến Tam pháp ty gióng trống “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng.

Sau sự kiện chấn động này, Bùi Hữu Nghĩa được vua Tự Đức tha tội chết, song phải chịu “quân tiền hiệu lực”, tức bị đày làm lính ở đồn Vĩnh Thông (thuộc Châu Đốc), đoái công chuộc tội.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, Bùi Hữu Nghĩa xin từ chức, về quê dạy học. Nhà ông là nơi các sĩ phu yêu nước gặp gỡ, bàn bạc việc chống Pháp cứu nước.

Ông lâm bệnh và mất ngày 21 tháng 01 năm Nhâm Thân (1872).

Nhận xét

Bùi Hữu Nghĩa nổi tiếng thơ hay:

Đồng Nai có bốn rồng vàng, 
Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi. 

Mặc dù từ quan, Bùi Hữu Nghĩa vẫn thầm kín tham gia phong trào Văn Thân, cùng một chủ trương như Phan Văn Trị, ông họa thơ lên tiếng kết án đường lối thỏa hiệp với Pháp của Tôn Thọ Tường.<1>

Bàn thờ Bùi Hữu Nghĩa tại đình Bình Thủy
Và nhìn chung, cảm hứng nổi bật trong thơ Bùi Hữu Nghĩa là nỗi niềm chua xót và tấm lòng vàng đá đối với đất nước, sự khao khát được trở lại một thuở thăng bình theo lý tưởng Nho giáo. Ông thường vịnh vật để tỏ thái độ khinh thị bọn người có địa vị trong xã hội đương thời, bất tài và hãnh tiến; vịnh các nhân vật lịch sử để bộc bạch tâm sự bất đắc chí, sinh không gặp thời...<2>

Bên cạnh đó, văn thơ ông dành cho vợ cho con, cũng rất chân thật, cảm động. Đặc biệt, vở tuồng ba hồi Kim Thạch kì duyên<3>,được coi là một trong số những vở tuồng cổ nhất nước Việt, là vở tuồng đầu tiên được dịch ra tiếng Pháp và đã từng lưu diễn khắp nơi.<4> Từ điển Bách khoa đánh giá: Cùng với các vở của Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh, vở "Kim Thạch kì duyên" của Bùi Hữu Nghĩa đánh dấu sự chuyển biến của tuồng Việt Nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20.<5>

Hiền phụ Nguyễn Thị Tồn (? - ?) vợ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, người thôn Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, huyện Phước Chính, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), là con gái đầu lòng của ông Nguyễn Văn Lý, hộ trưởng thôn Mỹ Khánh.

Không rõ bà thành vợ chồng với thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa lúc nào, nhưng chắc phải sau năm 1836, khi ông Nghĩa ra Huế thi Hội bị trượt, được triều đình cho tập sự ở bộ Lễ, rồi bổ làm tri phủ Phước Long, thuộc Biên Hòa.

Sau khi ra Huế đánh trống kêu oan cho chồng, bà được thái hậu Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức, ban cho tấm biển chạm 4 chữ vàng Tiết phụ khả gia.

Tuy cứu được chồng, Nguyễn Thị Tồn trở về đến quê nhà ở Biên Hòa, thì lâm bệnh mất và được an táng ở nơi đó...<6>.

Nguyễn Thị Tồn mất, lúc bấy giờ Bùi Hữu Nghĩa đang ở biên trấn xa xôi, nên khi ông đến Biên Hòa thì việc an táng đã xong, ông đành làm bài văn tế muộn, một cặp câu đối (một Hán, một Nôm) để tỏ lòng thương tiếc:

Cặp đối chữ Hán:

Ngã bần, khanh năng trợ; ngã oan khanh năng minh, triều dã giai xưng khanh thị phụ 
Khanh bệnh, ngã bất dược; khanh tử ngã bất táng, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu. 

Dịch:

Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ. 
Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất; non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng. 

Cặp đối chữ Nôm :

Đất chẳng phải chồng, bao nỡ thịt xương gởi đó, 
Trời mà mất vợ, thử xem gan ruột mần răng! 

Trích văn tế khóc vợ :

Phụng lìa đôi chếch mác, đừng nói sửa sang giềng mối, khi túng thiếu manh quần tấm áo, biết lấy ai mà cậy nhờ; 
Gà mất mẹ chít chiu, đừng nói nhắc biểu học hành, khi lạt thèm miếng bánh đồng hàng, biết theo ai mà thỏ thẻ. 

Thơ

Ai xui Tây đến 

Ai khiến thằng Tây tới vậy cà? 
Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba. 
Hẳn hoi ít mặt đền ơn nước, 
Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà. 
Đá sắt ôm lòng cam với trẻ, 
Nước non có mắt thấy cho già. 
Nam kì chi thiếu người trung nghĩa, 
Báo quốc cần vương dễ một ta! 

Thời cuộc 
(họa thơ Tôn Thọ Tường)

Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây 
Đâu để giang sơn đến thế này. 
Ngọn lửa Tam Tần phừng đất cháy, 
Chòm mây Ngũ quý lấp trời bay. 
Hùm nương non rậm đang chờ thuở, 
Cáo loạn vườn hoang thác có ngày. 
Một góc cảm thương dân nước lửa, 
Đền Nam trụ cả há lung lay. 


Đề mồ nhà vợ

Đã chồng ba năm mới đặng thăm, 
Màn loan đâu vắng bặt hơi tăm 
Gió đưa, đâu thấy hình dương liễu, 
Đêm vắng, ai hoài tiếng sắc cầm. 
Chồng nhớ vợ, lòng tơ bối rối, 
Con thương mẹ, lụy ngọc tuôn dầm. 
Có linh chín suối đừng xao lãng, 
Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm. ’' 

Tưởng nhớ

Ngưỡng mộ công đức của Bùi Hữu Nghĩa, nhân dân trong vùng đã lập thần chủ, bài vị tôn thờ vợ chồng ông ở đình thần Bình Thủy và chùa Nam Nhã. Hàng năm vào ngày 21 tháng giêng đều tổ chức lễ giỗ ông.

Khi xưa (năm 1872) mộ Bùi Hữu Nghĩa được xây bằng đá ong. Toàn bộ khu vực mộ rộng 530 m2, có hàng rào bao bọc. Cách ngôi mộ chính về phía sau khoảng 1m là ngôi đền thờ. Năm 1974 và mấy năm gần đây, nhờ mở rộng đường sá, nên đường dẫn đến khu mộ không còn là con hẻm nhỏ hẹp và nhà cửa của dân vây quanh, cũng đã được sắp xếp lại, nên khu mộ trông đã khang trang, thoáng đãng rất nhiều.

Khu mộ cách đường Cách Mạng Tháng 8 khoảng vài trăm mét, thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ, đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích Lưu niệm Danh nhân vào ngày 25 tháng 01 năm 1994.

Tên ông cũng được nhiều tỉnh thành trong nước Việt Nam, chọn đặt tên cho trường học và đường phố.

Chú thích

  1. Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, NXB Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản, tr.57. 
  2. Từ điển Văn học bộ mới, NXB Thế giới, 2004, tr.166. 
  3. Kim Thạch kì duyên, diễn tả cuộc tình duyên đầy sóng gió giữa chàng Kim Ngọc và nàng 3.Thạch Võ Hà, ca ngợi tình yêu chung thuỷ, khinh ghét kẻ tham vàng bỏ ngãi, chiến thắng độc ác, vượt ra ngoài chủ đề tôn quân. 
  4. Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, NXB Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản, tr.57. 
  5. Từ điển Văn học bộ mới, NXB Thế giới, 2004, tr.166. 
  6. Sau này, Bùi Hữu Nghĩa tục huyền với Bà Lưu Thị Hoán, người Vĩnh Thông, sanh được 1 gái, 3 trai
Top
SJ Time - шаблон joomla Оригами