Tổ chức hành chính địa phương của Hoa Kỳ

13 Tháng 4 2019
Người cập nhật :  

Phân cấp hành chánh địa phương của Hoa kỳ gồm có 5 cấp và theo số liệu thống kê năm 2002 của Văn phòng Thống kê thì chánh phủ Hoa kỳ có trên 87 ngàn đơn vị hành chánh địa phương được phân chia như thế nào mời bạn theo dõi.

1- Lời mở đầu:

– Vì Hoa kỳ là một quốc gia được tổ chức theo hình thức chánh phủ liên bang nên tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ rất đa dạng và phức tạp.

Do đó việc tìm hiểu cách tổ chức của guồng máy công quyền Hoa kỳ là một việc làm tương đối khó khăn.

Mặt khác các ý niệm về cơ cấu công quyền Mỹ cũng rất khác biệt và xa lạ so với cách tổ chức của nền hành chánh Việt Nam nên các từ về hành chánh công quyền trong Việt ngữ không có đủ các từ tương đương để diễn đạt một cách chánh xác các ý niệm khác lạ về tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ.

Trong các tài liệu Việt ngữ liên quan đến tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ được phổ biến từ trước đến nay các từ về tổ chức hành chánh thường hay được dịch không chánh xác và dùng một cách lẫn lộn giữa các ý niệm của cơ cấu Mỹ và cơ cấu Việt Nam.

Chẳng hạn như các danh từ “county” trong tiếng Mỹ thường được nhiều người dịch ra Việt ngữ là “quận”, “township” dịch ra là “”.v.v… là không chánh xác vì hai ý nghĩa giữa tiếng Mỹ và Việt không tương đương nhau.

Quận của Việt Nam chỉ là một phân cấp hành chánh trung gian giữa tỉnh và xã, trong khi county của Mỹ có thể coi tương đương với cấp tỉnh của Việt Nam.

Tương tự,  trong cơ cấu hành chánh Việt Nam là một đơn vị hành chánh căn bản thấp nhứt có tư cách pháp nhân và ngân sách riêng có nhiều quyền tự trị trong khi township tại Hoa Kỳ chỉ là một đơn vị hành chánh chuyển tiếp giữa thành phố và hạt, không có nhiều quyền hạn cũng như không phổ quát đều khắp tại tất cả các tiểu bang.

Về quan niệm tổ chức chánh quyền, các chánh quyền địa phương tại Mỹ có tánh độc lập cao và được tổ chức rất đa dạng do các nguyên nhân lịch sử lẫn các quan niệm về vai trò nhà nước của người dân Mỹ.

Trong khi đó các phân cấp hành chánh của Việt Nam dù có tư cách pháp nhân hay không vẫn bị chi phối bởi phân cấp hành chánh cao hơn và luôn luôn lệ thuộc vào chánh quyền trung ương.

Do đó để cho việc tìm hiểu tổ chức hành chánh đia phương của Hoa kỳ không bị lẫn lộn với các ý niệm về cơ cấu tổ chức của nền hành chánh Việt Nam chúng tôi sẽ cố gắng dùng những từ tuy thông dụng nhưng được dùng một cách riêng biệt để chỉ các ý niệm độc đáo trong cơ cấu tổ chức hành chánh của Hoa kỳ.

Trong khuôn khổ bài tìm hiểu này chúng tôi mạo muội đề nghị được dùng các từ như sau để dịch các ý niệm về tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ:

County = hạt

County Council = Hội đồng quản hạt

Municipality = khu đô thị

City = thành phố

Township = thị xã

Town = thị trấn

Town meeting = cuộc họp thị trấn

Village = làng

Self-governing area = khu tự quản

Incorporated = đinh chế hóa

Unincorporated = chưa định chế hóa

American Indian reservation = khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ

School district = đặc khu học chánh

Đa số các từ Anh-Việt liệt kê trên đã quen thuộc vì đại cương không khác biệt nhiều giữa hai ý niệm hành chánh Mỹ và Việt.

Riêng từ “county” người viết xin được dài dòng một đôi điều về việc dịch từ “county” là “hạt” thay vì “quận” như được nhiều người dùng từ trước đến nay là không chánh xác vì:

a/ Quận trong tổ chức hành chánh của Việt Nam là một phân cấp hành chánh trung gian giữa tỉnh và xã, không có tư cách pháp nhân, không có ngân sách riêng và không có nhiều quyền hạn trong khi đó cấp county của Mỹ có rất nhiều quyền hạn trong mọi lảnh vực như sẽ được trình bày dưới đây.

b/ Trong ý niệm Việt Nam, quận là phân cấp hành chánh thấp hơn và trực thuộc cấp tỉnh hoặc thành phố, trong khi đó county của Mỹ là một phân cấp hành chánh ngay dưới cấp tiểu bang và cao hơn cấp thành phố (city) và có thể coi ngang hàng cấp tỉnh của Việt Nam. Nhìn lại trong quá trình tổ chức hành chánh Việt Nam giai đoạn từ năm 1876 đến 1899 thời Pháp thuộc tại Nam Kỳ từ “hạt” cũng đã được dùng để chỉ phân cấp hành chánh cấp tỉnh.

Như vậy về phương diện lịch sử cũng như về phương diện ý niệm tổ chức, từ “hạt” nên được dùng để chuyển đạt ý nghĩa của từ “county” trong tổ chức hành chánh Mỹ vì thích hợp hơn và đáng được phổ dụng.

NMT

 

========

 

Hoa kỳ là một quốc gia theo hình thức chánh phủ liên bang nên đơn vị hành chánh chủ yếu sau liên bang là tiểu bang.

Theo luật pháp của Hoa Kỳ, các tiểu bang được xem là các thực thể có chủ quyền, có nghĩa là quyền lực của các tiểu bang đến trực tiếp từ người dân trong các tiểu bang đó chớ không phải từ chánh phủ liên bang.

Do đó, các chánh phủ tiểu bang đóng một vai trò quan trọng trong phần lớn các chánh sách căn bản liên quan trực tiếp đến cuộc sống của dân chúng.

Vì vậy tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ được qui đinh bởi luật pháp của từng tiểu bang và do sự khác biệt trong luật pháp của các tiểu bang nên tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ rất phức tạp và đa dạng.

Một cách tổng quát, đa số các tiểu bang phân chia việc thực thi chủ quyền thông thường qua ba phân cấp hành chánh.

– Phân cấp thứ nhứt luôn luôn là chánh quyền cấp toàn tiểu bang (State) gồm có các cơ quan hoạt động dưới sự điều hành trực tiếp của chánh quyền tiểu bang như các Văn phòng thống kê hộ tịch (Bureau of Vital Statistics), các sở đặc trách xe có động cơ (Department of Motor Vehicles) hay các Ty Y tế Công cộng (Public Health).

– Phân cấp thứ hai là chánh quyền hạt (County), đây là đơn vị hành chánh phổ quát tại hầu hết các tiểu bang.

– Phân cấp thứ ba thường là các chánh quyền đô thị (Municipality), hay thị xã (Township)tên gọi tùy theo tiểu bang. Các khu định cư nhỏ, ít dân nằm xa cách các khu đô thị và các thị xã thường được tổ chức thành các chánh quyền thị trấn (Town) hay làng (Village).

Ngoài ba chánh quyền đặc trách các mục đích tổng thể (general-purpose district) ở cấp bậc tiểu bang như vừa kể, tổ chức hành chánh địa phương của Hoa Kỳ còn có hai thực thể hành chánh đặc trách các mục đích đặc biệt (special-purpose district) hay gọi tắt là Đặc khu, đó là các Đặc khu học chánh, và các Đặc khu chức năng chuyên biệt như đặc khu cứu hỏa, đặc khu cung cấp nước…

Như vậy các phân cấp hành chánh địa phương của Hoa kỳ gồm có 5 cấp và theo số liệu thống kê năm 2002 của Văn phòng Thống kê thì chánh phủ Hoa kỳ có trên 87 ngàn đơn vị hành chánh địa phương được phân chia như sau:

1: Hạt (county): 3034

2: Khu đô thị và Thành phố (municipality and city): 19429

3: Thị xã và Thị trấn (township and town): 16504

4: Đặc khu học chánh (school district): 13506

5: Các Đặc khu chuyên biệt khác (Other special district): 35052

 

A.- HẠT (County):

Phân cấp hành chánh ngay dưới cấp tiểu bang của Hoa Kỳ là cấp chánh quyền hạt. Thông thường diện tích của hạt nhỏ hơn tiểu bang và lớn hơn một thành phố hoặc thị xã.

Hạt trong tiếng Anh là “county” được dùng tại tất cả các tiểu bang, trừ hai tiểu bang Alaskagọi là “borough” và Louisiana gọi là “parish“.

Theo bảng thống kê ở trên thì Hoa Kỳ có tất cả 3.034 hạt.

Tiểu bang có ít hạt nhứt là Delaware chỉ có 3 hạt và tiểu bang có nhiều hạt nhứt là Texas với 254 hạt.

Các hạt có thể có nhiều cấp độ chánh trị và pháp lý khác nhau nhưng chúng luôn luôn là đơn vị hành chánh căn bản của tiểu bang.

Thông thường các hạt có thể bao gồm một số thành phố, thị xã, hay làng hoặc đôi khi một phần đất của một thành phố.

Trong hầu hết các hạt ở Hoa Kỳ, một thành phố hoặc thị trấn được chỉ định làm trụ sở của hạt (county seat), ở đây tọa lạc các văn phòng chánh quyền hạt, cũng là nơi hội họp của Hội đồng Quản hạt (County Council) hoặc Ủy ban giám sát (Board of Supervisors).

Quyền hạn và cơ cấu của chánh quyền hạt rất khác nhau từ tiểu bang này sang tiểu bang khác đi từ cơ cấu tổ chức đơn giản như ở vùng New England đến cơ cấu tổ chức phức tạp như ở vùng Trung tây, vùng Viễn tây hay vùng miền Nam Hoa kỳ.

Thông thường quyền hạn của Hội đồng Quản hạt bao gồm cả ba lãnh vực như về lập pháp là quyền ban hành các sắc lệnh lập qui, về hành pháp là quyền giám sát sự thi hành chánh sách của chánh quyền hạt và một phần quyền tư pháp như trong việc chủ tọa và phán quyết các phiên điều trần của ban thiết kế…

Nói chung, Hội đồng Quản hạt chịu trách nhiệm đánh thuế; vay mượn và phân bổ tài chánh; ấn định mức lương cho nhân viên của hạt; giám sát các cuộc bầu cử; xây dựng và bảo trì xa lộ và cầu cống, chấp hành pháp luật và quản lý các chương trình phúc lợi cấp hạt, tiểu bang và quốc gia như thư viện, bệnh viện, y tế công cộng, dịch vụ hộ tịch, v.v…

Riêng về việc chấp hành pháp luật, cảnh sát trưởng của hạt (county sheriff) không có quyền kiểm soát các sở cảnh sát của các thành phố tự quản nằm trong đia giới của hạt mà chỉ có thể hợp tác với các sở cảnh sát này trong việc duy trì an ninh trật tự cho toàn hạt mà thôi.

Theo cơ quan National Association of Counties (NACo) thì chánh quyền hạt của Hoa Kỳ thường được tổ chức và điều hành theo một trong 3 (ba) mô hình như sau:

1.- Mô hình Ủy ban (Commission):

Mô hình này thường được áp dụng tại các hạt có ít dân.

Một Ủy ban gồm nhiều ủy viên do cư dân trong hạt bầu ra hành xử cả quyền hạn lập pháp và hành pháp, nhưng quyền hành pháp rất giới hạn vào việc quyết định thuê mướn và bãi nhiệm nhân viên…

Có khoảng 60% tổng số hạt tại Hoa Kỳ áp dụng mô hình chánh quyền này.

2.- Mô hình Ủy ban-Quản trị viên (Commission-Administrator):

Mô hình này thường được áp dụng tại các hạt nằm ở vùng ngoại ô các thành phố lớn.

Theo mô hình này các ủy viên do cư dân bầu ra chỉ định một Quản trị viên để thi hành quyền hành pháp và điều hành các công việc thường nhựt của hạt.

Thực quyền của Quản trị viên và danh xưng chánh thức của người này thay đổi tùy theo luật tiểu bang và ý nguyện của các ủy viên quản hạt.

Giống như mô hình Ủy ban ở trên, mô hình này cũng không có sự phân chia rõ ràng giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp vì Quản trị viên có thể bị các ủy viên bãi nhiệm bất cứ lúc nào.

3.- Mô hình Ủy ban-Ủy viên điều hành (Commission-Executive):

Không giống như mô hình Ủy ban-Quản trị viên ở trên, trong mô hình này Ủy ban lo về lập pháp và Ủy viên điều hành lo về hành pháp và tất cả đều do các cử tri trong hạt bầu ra cùng một lượt.

Nhờ do dân bầu nên Ủy viên điều hành có nhiều quyền hạn và tự do hơn trong khi hành xử nhiệm vụ điều hành hạt vì người này chỉ chịu trách nhiệm trước cử tri mà thôi.

Đặc biệt là Ủy viên điều hành do dân bầu có quyền phủ quyết các nghị quyết của ủy ban quản hạt và có toàn quyền trong việc thuê mướn và bãi nhiệm nhân viên.

Mô hình này được áp dụng tại các tiểu bang ArkansasKentucky và Tennessee.

Ngoại lệ:

Ngoài cấp hạt, tại một số tiểu bang còn có các khu hành chánh độc lập tương đương hạt trực thuộc thẳng chánh quyền tiểu bang. Đây là các thành phố theo pháp lý không thuộc một hạt nào trong tiểu bang.

Cho đến năm 2004, theo thống kê có tất cả là 42 thành phố được tổ chức như vậy tại Hoa Kỳ là: Baltimore của MarylandCarson City của NevadaSt. Louis của Missouri và tất cả 39 thành phố tại tiểu bang Virginia nơi mà bất cứ một khu đô thị nào được định chế hóa (incorporated) thành một thành phố thì theo luật sẽ được tách rời khỏi thẩm quyền của bất cứ hạt nào mà nó nằm trong đó.

Một ngoại lệ khác nữa là tại một số tiểu bang ở vùng New England, và các tiểu bang MassachusettsConnecticut thì hạt không phải là một phân cấp hành chánh. Thành phố và thị trấn (town) mới là đơn vị hành chánh luật định.

 

B.- KHU ĐÔ THỊ & THÀNH PHỐ (Municipality & City):

Tại Hoa Kỳ, “khu đô thị” (municipality) chánh yếu chỉ là một từ pháp lý để chỉ một khu định cư có tiềm năng tự quản cao, hơn là có ý nghĩa chỉ toàn bộ một khu vực đô thị rộng lớn.

Các khu đô thị như thành phố, thị xã, làng là các phân cấp hành chánh nằm dưới cấp hạt.

Theo thống kê năm 2002 thì toàn nước Hoa kỳ có 19,429 khu đô thị và thành phố.

Thông thường các khu đô thị chiếm một khu vực có diện tích nhỏ hơn diện tích của hạt. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ:

Một thành phố có thể có lãnh thổ cùng địa giới với một hạt chứa nó, mặc dù cả hai đều có chánh quyền riêng biệt.

Đây là trường hợp của thành phố Jacksonville và hạt Duval ở Florida.

Một thành phố và hạt chứa nó có thể nhập lại để tạo thành một “hat-thành phố hợp nhứt” (consolidated city-county) được xem như vừa là một thành phố vừa là một hạt dưới luật tiểu bang.

Đó là trường hợp của Denver của Colorado và San Francisco của California.

Tương tự, một số hạt của Alaska đã nhập với các thành phố chánh của nó để tạo ra các “hạt-thành phố thống nhất” (unified city-boroughs).

Một thành phố có thể lấn địa giới của nó qua một hạt khác. Đó là trường hợp của Atlanta của GeorgiaColumbus của OhioKansas City của MissouriHouston của Texas, và Oklahoma City của Oklahoma.

Thành phố Dallas-Fort Worth của Texas trải rộng trong 5 hạt, mỗi hạt chứa một phần của thành phố.

Giống như vậy, thành phố New York nằm trong 5 hạt nhưng đặc biệt hơn vì 5 hạt này chứa chỉ một mình thành phố New York.

Về cách tổ chức chánh quyền các khu đô thì tùy theo mực độ dân số và luật pháp của tiểu bang mà có nhiều hình thức khác nhau.

Tuy nhiên tại một số tiểu bang lại không có cấp chánh quyền khu đô thị như tại tiểu bang Hawaii chỉ có chánh quyền cấp hạt mà thôi.

Thông thường chánh quyền đô thị gồm có nhiều ty, sở đảm nhiệm những phần vụ hành chánh khác nhau tùy theo khu đô thị lớn hay nhỏ nhưng thông thường chánh quyền đô thị phải có những ty sở để đảm nhiệm những trách vụ như:

– Thiết kế đô thị và phân định khu vực.

– Công tác công chánh: xây dựng và bảo trì những cơ sở hạ từng của khu đô thị như hệ thống cống rảnh, hệ thống dẫn nước, bảo trì công lộ, công ốc, xe cộ…

– Xây dựng và bảo quản công viên, những vùng đất thuộc đô thị…

– Cảnh sát: thi hành pháp luật và giữ gìn an ninh trật tự cho khu vực.

– Cứu hỏa.

– Thu thuế và quản trị nhân viên.

– Vận tải công cộng

….

Các vùng định cư trong một khu đô thi sẽ trở thành thành phố (city) hay thị trấn (town) hay làng (village) sau khi cư dân trong vùng định cư này bỏ phiếu để định chế hóa khu vực thành khu tự quản mà theo tiếng Anh gọi là “incorporated“.

Chánh quyền thành phố cũng được tổ chức môt cách khác nhau tùy theo từng tiểu bang.

Tại một số tiểu bang của Hoa Kỳ, bất cứ một khu đô thị nào có tổ chức chánh quyền đinh chế hóa (incorporated) thì được gọi là thành phố như tại các tiểu bang IdahoVirginia

Trong khi tại tiểu bang Illinois, thành phố phải có một dân số tối thiểu là 2.500 người nhưng tại Nebraska, thành phố chỉ cần có tối thiểu 800 người…

Tại một số tiểu bang khác một phân cấp hành chánh cũng khá phổ biến là làng (village).

Thông thường làng tại Hoa kỳ là một khu đô thị được định chế giống như một thành phố nằm trong địa giới của một thị xã hoặc thị trấn nhưng có diện tích nhỏ hơn thành phố và cũng có ít quyền hạn hơn.

Về cơ cấu tổ chức, đa số các thành phố của Hoa kỳ được điều hành bằng một trong 3 (ba) mô hình chánh quyền như sau:

1/- Mô hình Thị trưởng – Hội đồng (Mayor-Council government).

Đây là mô hình chánh quyền thành phố lâu đời nhất hiện hữu ở Hoa Kỳ, và vẫn được áp dụng tại hầu hết các thành phố.

Cơ cấu của nó tương tự với chánh quyền tiểu bang và quốc gia với một thị trưởng được cử tri tuyển chọn để đảm nhiệm vị trí đứng đầu nhánh hành pháp, và một hội đồng, do đại diện các khu vực dân cư khác nhau bầu ra, cấu thành nhánh lập pháp.

Hội đồng thông qua các dự luật, định mức thuế tài sản và biểu quyết ngân sách cho các sở ngành và các chương trình công ích.

Thị trưởng có quyền bổ nhiệm và cách chức các trưởng ty, sở của thành phố cùng các viên chức khác, đôi khi cần có sự phê chuẩn của hội đồng.

Thị trưởng cũng có quyền phủ quyết các đạo luật của thành phố nếu xét thấy không thích hợp, có quyền sọan thảo và quản trị sự thi hành ngân sách, nhưng ngân sách phải được hội đồng chuẩn y.

Đôi khi tại một số thành phố lớn thị trưởng còn có quyền bổ nhiệm một giám đốc hành chánh chỉ chịu trách nhiệm với Thi trưởng để lo việc giám sát các ty, sở, lo việc sọan thảo ngân sách, và phối hợp công tác giữa các ty, sở trong thành phố.

2/- Mô hình Hội đồng – Giám đốc. (Council-Manager government).

Mô hình Hội đồng – Giám đốc là một giải pháp nhằm đáp ứng tình hình các vấn nạn đô thị ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi kỹ năng cao của một nhà chuyên môn mà không thể tìm thấy nơi các viên chức dân cử.

Trong mô hình này thành phố được quản trị tương tự như mô hình của các công ty trong đó hội đồng tin cậy và uỷ thác các quyền hành pháp, như quyền thi hành pháp luật và cung ứng các loại dịch vụ công cho một giám đốc (manager) chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm và được đào tạo tốt.

Mô hình này ngày càng được nhiều thành phố chấp nhận.

Theo đó, một hội đồng được dân bầu ra với một ít nghị viên thường từ 5 đến 11 người, có nhiệm vụ ban hành luật và thiết lập chính sách cho thành phố, nhiệm vụ giám sát tổng quát công việc của thành phố….

Để thực thi các nghị quyết hội đồng thuê một giám đốc được trả lương. Giám đốc của thành phố sẽ thiết kế ngân sách và điều hành hầu hết các ty, sở của thành phố.

Thường thì Giám đốc không có nhiệm kỳ cố định; bao lâu hội đồng thành phố còn hài lòng với công việc của người giám đốc thì người ấy còn duy trì vị trí của mình.

Mô hình này đang phát triển mạnh trong những năm gần đây với phong trào đổi mới hoạt động của chính phủ theo hướng doanh nghiệp.

Khảo sát thực tế cho thấy rất nhiều thị trấn và thành phố được điều hành như là một doanh nghiệp và cũng có địa vị pháp luật tương tự như một doanh nghiệp.

Do đó các thành phố đã đinh chế hoá (incorporated cities)  sau một thời gian cũng có thể bị phá sản như một công ty do số thu không đủ chi trong nhiều năm hay vì lý do gì đó phải chịu giải thể.

Nếu thành phố bị phá sản hay giải thể thì thành phố đó sẽ trở lại thành một khu chưa đinh chế và sẽ nhận được các dịch vụ cung cấp bởi phân khu hành chính cao hơn như hạt.

3/- Mô hình Ủy ban (City Commission government).

Mô hình này kết hợp các chức năng lập pháp và hành pháp vào một nhóm nhỏ các viên chức, thường là ba người hoặc hơn, được cử tri toàn thành phố tuyển chọn qua bầu cử. Mỗi uỷ viên giám sát sự vụ của một số sở ngành của thành phố.

Nhân vật được chỉ định làm chủ toạ ủy ban thường được gọi là Thị trưởng, dù quyền hạn của người này cũng chỉ ngang bằng các uỷ viên khác. Mô hình này thường chỉ áp dụng tại các thành phố nhỏ.

 

C.- THỊ XÃ & THỊ TRẤN (Township & Town).

Tại một số tiểu bang các hạt được phân chia thành các thị xã.

Thị xã (township) theo định nghĩa là một đơn vị hành chính của hạt được áp dụng tại các vùng nông thôn và là cấp bậc chính quyền chuyển tiếp giữa thành phố và hạt.

Một thành phố đôi khi vượt qua khỏi ranh giới của hạt (thí dụ thành phố Portland của Oregonphần lớn nằm trong hạt Multnomah nhưng có một ít phần đất nằm trong hạt Washington và hạt Clackamas) nhưng thị xã thì không bao giờ vượt qua ranh giới của hạt.

Một số thị xã có chính quyền và quyền lực chính trị trong khi một số khác thì chỉ là cách để ấn định một khu vực địa lý.

Một cách chính xác thị xã là một khu vực địa lý nhỏ thường có hình chữ nhật diện tích từ 6 đến 54 dặm vuông (square miles) và được phân biệt làm 3 lọai thị xã:

– Thị xã khảo sát (survey township) chỉ đơn giản là 1 cái tên địa lý để định vị trí của bất động sản nằm trong khu vực đó nhằm mục đích cho việc lập chứng thư, khế ước, giao dịch mua bán hay sang nhượng đất đai.

– Thị xã dân sự (civil township) là một đơn vị chính quyền địa phương được áp dụng tại các vùng nông thôn.

Thị xã dân sự thường có tên và đi đôi với chữ viết tắt trong tiếng Anh là “Twp“.

Tuy nhiên không phải tất cả các tiểu bang tại Hoa Kỳ đều có đơn vị thị xã dân sự.

Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, trong năm 2002 có 30 tiểu bang không có đơn vị thị xã và trong 20 tiểu bang còn lại kia có khoảng 16.504 chính quyền có tổ chức được xem là các đơn vị chính quyền thị xã.

– Thị xã đặc quyền (charter township) là một đơn vị hành chính địa phương chỉ có tại tiểu bang Michigan mà thôi, nó cũng giống như thị xã dân sự nhưng có đặc quyền không thể bị sáp nhâp (annexation) vào các thành phố hay các làng tự quản lân cận.

Quyền lực và tổ chức của các thị xã và các thị trấn vì được qui định bởi ngành lập pháp của tiểu bang nên cũng khác nhau giữa tiểu bang này và tiểu bang khác.

Trong nhiều tiểu bang thị xã được tổ chức và điều hành trực tiếp bởi tiểu bang trong khi các thành phố và làng lại được xem là những đô thị định chế hóa có quyền tự quản.

Hình thức phổ thông nhất của chính quyền thị xã ở Hoa Kỳ là có một ủy ban hoặc hội đồng dân cử, được biết với các tên khác nhau như hội đồng thị xã, ban dân biểu, ban giám sát, ban uỷ viên…

Các ban này có thể có một chủ tịch với chức năng của một viên chức lãnh đạo hành pháp, hoặc là một thị trưởng.

Một số viên chức khác như lục sự (clerk) hay cảnh sát thị xã (constable) có thể cũng được người dân bầu lên.

Ngoài ra còn có thể có một thủ quỹ, các nhân viên cứu hoả, y tế và an sinh xã hội…

Các trách nhiệm phổ thông của chính quyền thị xã gồm có những công việc như bảo trì đường xá, qui hoạch sử dụng đất, chiếu sáng đường phố; bảo đảm nguồn cung cấp nước; cung ứng lực lượng cảnh sát và cứu hoả; thiết lập các qui định y tế địa phương; vận chuyển và xử lý rác, cống thoát các loại chất thải; thu thuế để tài trợ các hoạt động của chính quyền; hợp tác với hạt và tiểu bang để quản lý hệ thống trường học tại địa phương.

Thông thường từ thị xã (township) và thị trấn (town) tại Hoa Kỳ liên quan mật thiết và trong nhiều tài liệu hai từ này thường hay được dùng để thay thế nhau.

Tuy nhiên tại môt số tiểu bang thị xã và thị trấn được phân biệt rõ rệt.

Tại các tiểu bang này thị trấn (town) là một khu đô thị được đinh chế hóa nhỏ hơn thành phố và thường có dân số dưới 10,000 người.

Ở một vài nơi các thị trấn cũng được gọi là thành phố như ở tiểu bang Alabama, khu đô thị trên 2000 dân được gọi là thành phố, dưới 2000 dân thì gọi là thị trấn.

Ở tiểu bang Wyoming cũng tương tự nhưng số dân đòi hỏi phải là 4000 người trong khi tiểu bang Utah chỉ đòi hỏi 1000 người.

Tại 2 tiểu bang Arizona và California thì các từ thành phố và thị trấn có thể thay thế cho nhau.

Riêng tai California tên của một thành phố hay thi trấn nào cũng đều phải có một tên gọi bắt đầu bằng “City of (tên)” hay “Town of (tên)“.

Đặc biệt tại vùng New England, các thị trấn (town) lại là hình thức căn bản của chính quyền địa phương, cung cấp nhiều chức năng như tại các hạt ở những tiểu bang khác.

Một khía cạnh độc đáo của chính quyền địa phương vùng New England, là các “cuộc họp thị trấn” (town meeting), mỗi năm họp một lần hoặc có thể triệu tập nhiều cuộc họp nếu cần.

Tại cuộc họp thị trấn tất cả các cử tri có đăng ký trong thị trấn cùng với các viên chức dân cử, thảo luận về các vấn đề của địa phương, cũng như thông qua luật để điều hành chính quyền thị trấn.

Các cuộc họp này cũng quyết định về các dự án xây dựng và sửa chữa đường xá, xây dựng các tòa nhà và các tiện ích công cộng, định mức thuế và ngân sách thị trấn.

Hình thức “cuộc họp thị trấn”, tồn tại từ hơn hai thế kỷ, thường được nhắc đến như là mô hình tinh tuyền nhứt của nền dân chủ trực tiếp, theo đó quyền lực cai trị không được uỷ thác cho các viên chức dân cử, mà được hành xử trực tiếp và thường xuyên bởi chính người dân.

 

D.- KHU ĐỊNH CHẾ & KHU CHƯA ĐỊNH CHẾ (Incorporated & Unincorporated areas):

Trong chính quyền địa phương của Hoa Kỳ các khu định cư sẽ trở thành thành phố (city) hay thị trấn (town) sau khi cộng đồng cư dân trong khu định cư này bỏ phiếu để được tổ chức thành khu được đinh chế hóa (incorporated). Đa số các thành phố và thị trấn tại Hoa kỳ là các khu đô thị được định chế hóa.

Ngược lại là một cộng đồng “chưa định chế” (unincorporated), đó là một cụm từ chung để chỉ một khu vực địa lý có định dạng xã hội chung nhưng không có được phúc lợi của một tổ chức đô thị tự quản hay danh xưng chính trị chính thức.

Để tiện cho công việc thống kê, Cục điều tra dân số Hoa Kỳ liệt kê các khu định cư chưa định chế này thành các khu gọi là các thị xã khảo sát (Survey township).

Về phương diện luật pháp, một khu chưa được định chế (unincorporated area) là một vùng đất không thuộc bất cứ một khu tự quản nào.

Như thế, một cộng đồng chưa có định chế thường không phải đóng thuế cho một chính quyền thành phố. Những vùng đất như thế thường thuộc quyền quản lý của một phân vùng lãnh thổ hành chính lớn hơn, thí dụ như một hạt hay tiểu bang.

Tại Hoa Kỳ, các vùng chưa có định chế thường rất phổ biến tại các tiểu bang Trung Tây Hoa KỳTây Hoa Kỳ và Tây Nam Hoa Kỳ như California và Nevada, và tại các tiểu bang đông nam Hoa Kỳ như FloridaNorth CarolinaKentucky, và West Virginia.

 

E.- CÁC ĐẶC KHU (Special-purpose district):

Các đặc khu là những thực thể hành chính độc lập không bị lệ thuộc vào các hạt và có nhiệm vụ cung ứng các dịch vụ đặc biệt được ủy thác bởi người dân sống trong khu vực qui định.

Khu vực qui định thường bao gồm một vùng đất rộng vượt qua lằn ranh phân chia các thị trấn, làng nhưng thường thì phải nằm bên trong địa giới của một hạt.

Các đặc khu thường được thành lập bởi luật pháp của tiểu bang nhưng đôi khi cũng do kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý.

Đặc khu được điều hành bởi một Hội đồng ủy viên (Board of commissioners) hành xử như một hội đồng giám đốc trong công ty và gồm các ủy viên được chỉ định hoặc do dân trong đặc khu bầu ra.

Để thi hành nhiệm vụ Hội đồng có quyền lập pháp và chế tài, có quyền thu thuế, thường là thuế bất động sản hay phát hành trái phiếu (bond) và quyền chỉ định một Giám đốc điều hành (chief executive) để phụ trách công việc thi hành chính sách của Hội đồng và các công tác điều hành thường nhựt.

Các đặc khu thường thấy là đặc khu học chính, đặc khu cứu hỏa, đặc khu cung cấp nước…

Tuy nhiên, có hai lọai đặc khu không thuộc thẩm quyền điều hành của tiểu bang, đó là Đặc khu Columbia của liên bang và các khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ.

1/. Đặc khu liên bang Washington.

Một đặc khu riêng biệt là Đặc khu Washington tức Washington, D.C. là thủ đô của liên bang Hoa kỳ nên không thuộc quyền cai quản của các tiểu bang.

Đặc khu này được đặt dưới quyền trực tiếp của Quốc hội Hoa Kỳ, được thành lập từ phần đất nhượng lại của các tiểu bang Maryland và Virginia cho chính phủ liên bang, nhưng phần đất của Virginia sau đó được trả lại cho tiểu bang vào năm 1846.

Quốc hội Hoa Kỳ có đặc quyền thực hiện chủ quyền đối với thành phố này và đạo luật Tự trị Đặc khu Columbia đã trao quyền tự trị có giới hạn cho thành phố trong đó có việc cho phép cư dân của thành phố quyền bầu lên một chính quyền thành phố gồm 1 thị trưởng và 1 hội đồng thành phố gồm 13 thành viên để lo việc quản trị cho đặc khu Columbia.

2/. Những khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ.

Những khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ (American Indian reservation) là đơn vị hành chính đặc biệt và riêng biệt của Hoa Kỳ và hiện có khoảng 310 khu dành riêng như vậy trên toàn nước Mỹ.

Trong số 310 khu đó có 12 khu dành riêng có diện tích lớn hơn tiểu bang Rhode Island9 khu có diện tích lớn hơn tiểu bang Delaware, và 1 khu dành riêng cho người bộ tộc Navajo có diện tích bằng diện tích tiểu bang West Virginia.

Tổng số diện tích của tất cả các khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ là khoảng 56 triệu mẫu Anh (khoảng 225.410 km2) chiếm 2.3% diện tích của toàn nước Hoa kỳ.

Theo luật liên bang, các bộ lạc người bộ tộc Mỹ là các dân tộc có chủ quyền, điều này có nghĩa là quyền pháp lý của họ tồn tại độc lập không lệ thuộc vào quyền pháp lý của chính phủ liên bang và chính quyền tiểu bang.

Tuy nhiên theo định nghĩa về chủ quyền bộ lạc (tribal sovereignty) thì họ không thể hoạt động bên ngoài quyền lực của liên bang mặc dù họ được miễn nhiểm đối với những luật lệ của tiểu bang.

Cho đến cuối thế kỷ 19, những thỏa thuận giữa chính phủ Hoa Kỳ và các nhóm người bộ tộc Mỹ chỉ là những hiệp ước.

Tuy nhiên những hiệp ước này hiện nay được xem là luật nội địa bất kể tên gọi của chúng là gì.

Mỗi khu dành riêng này được quản trị bởi một hội đồng bộ tộc (tribal council) do cư dân trong khu bầu ra và luật lệ áp dụng cũng rất khác nhau tùy theo từng bộ tộc.

Vì không bị chi phối bởi luật của liên bang và tiểu bang nên nhiều khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ đã lợi dụng kẻ hở này để mở các sòng bạc casino hầu hấp dẫn du khách và tìm tài nguyên cho việc điều hành bộ tộc.

Qua các phần vừa trình bày ta thấy cơ cấu tổ chức hành chính địa phương của Hoa kỳ thực sự rất độc đáo không giống cơ cấu hành chính địa phương của bất kỳ quốc gia nào.

Nguyễn Minh Triết

Top
SJ Time - шаблон joomla Оригами